Niacinamide (Vitamin B3)

Niacinamide hay vitamin B3 có thể được xem là thành phần ‘vàng’ của rất nhiều sản phẩm chăm sóc da. Lý do là trong khi các thành phần khác chỉ có một vài tác dụng. Thì bảng tác dụng của niacinamide là cực kỳ dài.

Khả năng đầu tiên phải kể đến của niacinamide đó chính là làm sáng da. Trong khi các thành phần có khả năng làm sáng da khác bằng cách ức chế sự hình thành của hắc tố. Thì niacinamide lại làm sáng da bằng cách khác. Thành phần này có khả năng ngăn chặn tế bào sắc tố chuyên biệt (melanosome).

Tế bào sắc tố chuyên biệt chính là ‘thủ phạm’ giúp chứa và vận chuyển hắc tố (melanin). Bạn hãy cứ tưởng tượng tế bào sắc tố chuyên biệt như một chiếc ô tô vậy. Và ‘chiếc ô tô’ giúp vừa là nơi mà hắc tố được tổng hợp, được chứa và vận chuyển. Điều gì xảy ra nếu chúng ta không cho ‘chiếc ô tô’ này di chuyển? Và đó chính là khả năng của niacinamide.

Trong một nghiên cứu của Nhật Bản thì niacinamide có khả năng hạn chế việc di chuyển của tế bào sắc tố chuyên biệt từ 35 đến 68%. Qua đó giúp da trắng và sáng hơn.

Khả năng làm sáng da của niacinamide còn được ứng dụng trong việc điều trị nám. Một nghiên cứu vào năm 2011 đã so sánh khả năng trị nám của niacinamidehydroquinone, thành phần làm trắng và trị nám phổ biến. Kết quả là niacinamide chịu thua hydroquinone với kết quả từ tốt đến xuất sắc là 44%. Trong khi đó hydroquinone nhận được kết quả là 55%. Tuy nhiên, hydroquinone lại gây dị ứng lên đến 29%.

Đồng thời thành phần hydroquinone này còn bị cấm ở Châu Âu. Lý do là hydroquinone hay được kết hợp với thuỷ ngân để làm tăng khả năng làm trắng. Chỉ cần một lượng rất nhỏ thuỷ ngân thôi cũng là rất đôc rồi. Nhiều loại kem làm trắng không rõ nguồn gốc trên thị trường đang sử dụng bộ đôi thành phần này để giúp da trắng nhanh.

Khả năng thứ hai của niacinamide đó chính là chống lão hoá và giảm nếp nhăn. Đã có khá nhiều nghiên cứu ở người chứng minh cho khả năng này của niacinamide. Các nghiên cứu trên da của người da trắng đến người Châu Á đều cho kết quả tương tự. Hầu hết những nghiên cứu này nhận thấy rằng kết quả rõ rệt nhất sẽ xuất hiện trong tuần thứ 8 đến tuần thứ 12 nếu sử dụng niacinamide hàng ngày.

Tác động của niacinamide lên da lão hoá cũng gần giống retninol (vitamin A), một thành phần giảm nếp nhăn da phổ biến. Niacinamide giúp kích thích sự hình thành của collagen. Đồng thời thúc đẩy những nhóm các hợp chất hữu cơ cần thiết cho da khác.

Khả năng thứ ba của niacinamide đó chính là trị mụn. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu thì thành phần này chỉ hiệu quả cho những trường hợp mụn từ nhẹ cho đến vừa phải.

Niacinamide giúp trị cũng như ngừa mụn nhờ vào khả năng kháng viêm khá tốt. Đồng thời thành phần này giúp làm giảm nhờn cho da. Qua đó cũng góp phần ngăn ngừa mụn tái phát.

Khả năng thứ tư của niaciamide đó chính là giúp hồi phục màng dưỡng ẩm. Màng dưỡng ẩm như tên gọi của mình là một lớp màng vừa giúp dưỡng ẩm lại vừa bảo vệ da khỏi các tác nhân bên ngoài. Cấu tạo nên màng dưỡng ẩm bao gồm chất béo, cholesterol và ceramide. Da của chúng ta tự tạo ra những thành phần này để tạo nên màng dưỡng ẩm và hoàn toàn tự cấp ẩm.

Tuy nhiên, không phải da của ai cũng hoạt động lý tưởng như vậy. Hoặc vì những lý do khác như môi trường hay lạm dụng mỹ phẩm. Màng cấp ẩm hoạt động không hiệu quả khiến da quá khô hay quá nhờn bóng. Da nhìn mệt mỏi và thiếu sức sống.

Nghiên cứu cho thấy chỉ cần một lượng 2% thành phần niaciamide có trong mỹ phẩm thôi, là cũng giúp thúc đẩy sự hình thành của các thành phần tạo nên màng dưỡng ẩm. Qua đó giúp da khoẻ mạnh cũng như được dưỡng ẩm một cách tốt nhất.

Ngoài những khả năng nổi bật trên. Thành phần niaciamide còn có rất nhiều ‘tài lẻ’ khác. Chẳng hạn như giúp làm lành vết thương nhanh. Cũng như giúp rị những vấn đề da phổ biến như chàm hay viêm da.

Nguồn tham khảo:

  • Hakozaki, T., Minwalla, L., Zhuang, J., Chhoa, M., Matsubara, A., Miyamoto, K., … & Boissy, R. E. (2002). The effect of niacinamide on reducing cutaneous pigmentation and suppression of melanosome transfer. British Journal of Dermatology, 147(1), 20-31.
  • Navarrete-Solís, J., Castanedo-Cázares, J. P., Torres-Álvarez, B., Oros-Ovalle, C., Fuentes-Ahumada, C., González, F. J., … & Moncada, B. (2011). A double-blind, randomized clinical trial of niacinamide 4% versus hydroquinone 4% in the treatment of melasma. Dermatology research and practice2011.
  • Bissett, D. L., Oblong, J. E., & Berge, C. A. (2005). Niacinamide: AB vitamin that improves aging facial skin appearance. Dermatologic surgery, 31, 860-866.
  • Chiu, P. C., Chan, C. C., Lin, H. M., & Chiu, H. C. (2007). The clinical anti‐aging effects of topical kinetin and niacinamide in Asians: a randomized, double‐blind, placebo‐controlled, split‐face comparative trial. Journal of cosmetic dermatology, 6(4), 243-249.
  • Kaymak, Y., & Önder, M. (2008). An investigation of efficacy of topical niacinamide for the treatment of mild and moderate acne vulgaris. J Turk Acad Dermatol, 2(4), jtad82402a.

 

This entry was posted in . Bookmark the permalink.